Cót Két

Blog chia sẻ tri thức

Lịch sử

Mật mã vô địch – bộ mật mã thần kỳ chưa từng bị phá giải

Câu nói “Biết mình biết người trăm trận trăm thắng” quả thật không sai. Giải được mật mã của đối phương là con đường tắt mà hai bên giao chiến đều mơ ước. Đồng thời làm thế nào bảo vệ được mật mã của mình khiến đối phương không giải được cũng một công việc được đặc biệt quan tâm. Trong thời kỳ thế chiến thứ 2, Mỹ đã từng tạo ra một bộ “mật mã vô địch” khiến cho người ngoài cuộc không thể giải được. Đây là một kỳ tích hiếm có trong lịch sử giải mã thế giới.

Wolfgang Lotz – điệp viên đắt giá nhất trong lịch sử thế giới / Đường hầm bí mật bên dưới bức tường Berlin – âm mưu gián điệp của CIA

Bộ “mật mã vô địch” đã góp phần tạo nên những chiến thắng cho phe Đồng minh

quân mỹ cắm cờ trên đảo Iwo Jima
Quân Mỹ cắm cờ trên đảo Iwo Jima

Sau hơn nửa thế kỷ âm thầm tìm tòi nghiên cứu, nhóm nhân viên “mật mã đặc biệt” cuối cùng đã nhận được huân chương cao nhất của chính quyền Mỹ – huân chương vàng quốc hội từ tay Tổng thống Bush. Kết quả của thành tích này chính là bộ “Mật mã vô địch” góp phần rất lớn cho quân Đồng minh chiến thắng phát xít.

Đánh chiếm đảo Iwo Jima (Nhật Bản) là một chiến dịch kinh điển của quân Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương. Bức ảnh quân Mỹ cắm cờ trên đảo Iwo Jima trở thành biểu tượng của tinh thần chiến đấu hy sinh của quân Mỹ trong thế chiến 2. Sau khi chiến dịch đảo Iwo Jima kết thúc, thượng tá phụ trách thông tin liên lạc Howard Connor cảm khái nói: “Nếu không có người Navajo, hải quân Mỹ mãi mãi không chiếm nổi đảo Iwo Jima”.

Lúc đó, Connor có 6 nhân viên mật mã Navajo. Hai ngày trước khi chiến đấu, họ làm việc suốt đêm không nghỉ. Trong cả quá trình chiến đấu, họ tổng cộng nhận và phát hơn 800 tin đảm bảo không xảy ra bất kỳ sai sót nào.

Ai là người có công soạn ra bộ “mật mã vô địch” từ ngôn ngữ Navajo?

mật mã vô địch
Nhân viên biên dịch mật mã Navajo

Filip Johnson, nhân viên da trắng của Mỹ đã đề nghị dùng ngôn ngữ Navajo của người Navajo ở vùng Bắc Mỹ cho việc soạn mật mã quân sự này. Cha của Johnson là một giáo sĩ truyền giáo đã từng đến bộ lạc Navajo, có khả năng nói tiếng Navajo rất thành thạo. Lúc đó, tiếng Navajo chỉ sử dụng trong bộ lạc của người Navajo, đối với người ngoài bộ lạc chẳng khác gì “tiếng chim”. Loại ngôn ngữ này chỉ truyền miệng không có văn tự. Âm điệu, âm tiết, ngữ pháp của nó vô cùng phức tạp. Nếu người không được luyện tập chuyên môn lâu dài, căn bản không thể hiểu được ý nghĩa của nó.

Johnson vốn là một người thông minh. Sau khi tìm hiểu anh cho rằng nếu dùng tiếng Navajo biên soạn mật mã quân sự sẽ khiến cho đối phương không thể giải mã được. Theo ghi chép tư liệu lúc đó, người không phải dân tộc Navajo hiểu ngôn ngữ này trên toàn trái đất chỉ gần 30 người. Điều đặc biệt hơn nữa, trong số 30 người đó không có một ai là người Nhật.

Đầu năm 1942, Johnson đã đưa ra sáng kiến này. Anh nói: Nếu dùng tiếng Navajo biên soạn mật mã có thể truyền 3 dòng tin tiếng Anh trong 20 phút còn mật mã máy phải truyền tới 30 phút.

Sau khi nghe Johnson thuyết trình, thượng tướng hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ là K.Wogerl lập tức cho triển khai kế hoạch. Tháng 5/1942, 29 người Navajo được gọi nhập ngũ làm nhân viên biên dịch mật mã.

Toàn bộ công việc này đã được tiến hành trên bờ biển California. Căn cứ vào tính năng của tiếng Navajo, nhóm nhân viên mật mã đã tạo ra nhóm từ gồm 500 thuật ngữ quân sự chuyên dụng. Do không có từ chuyên môn của thiết bị quân sự hiện đại, trong mật mã thay thế có sự xuất hiện nhiều cách nói ví von và từ tượng thanh khiến cho người nghe không thể giải mã nổi.

Trong chiến tranh Thái Bình Dương sau đó, có tới 420 người dân tộc Navajo đã tham gia đội ngũ thông tấn viên mật mã Mỹ. Họ hầu như được tham gia tất cả các chiến dịch ở khu vực Thái Bình Dương.

Dùng mật mã biên soạn bằng tiếng Navajo để ra mệnh lệnh chiến đấu, thông báo tình hình chiến sự, có tác dụng quan trọng trong việc đánh bại chủ nghĩa quân phiệt Nhật.

Mật mã được tạo ra từ tiếng Comanche

Trong thời kỳ thế chiến 2, ngoài tiếng Navajo ở chiến trường châu Âu, quân Mỹ còn sử dụng mật mã tiếng Indian Comanche. Theo hồi ức của Charles Chibitty từng là nhân viên mật mã tiếng Comanche,  quảng cáo trưng binh trên báo hồi đó viết: “Trưng binh người Comanche, biết nói tiếng mẹ đẻ. Yêu cầu đặc biệt là phải nói tiếng Comanche lưu loát”.

Nhóm nhân viên mật mã này đã sáng tạo ra bảng từ gồm 250 nhóm thuật ngữ quân sự theo tiếng Comanche. Trong đó hành động “máy bay ném bom” trở thành  “con chim bụng chửa” trong tiếng Comanche. Một hôm, Chibitty nhận được một bức ảnh của một người đàn ông Đức tóc đen, để râu kiêu Charlie Chapin, dáng vẻ nghiêm nghị với lời đề nghị: “Chúng tôi cần đặt cho người này một biệt hiệu”. Chibitty nhìn qua tấm ảnh nhớ lại bộ phim tài liệu châu Âu mà ông đã được xem liền trả lời “Điên được không? Hoặc điên rồ?”. Cuối cùng mọi người thông nhất quyết định gọi y là “người da trắng điên rồ” – biệt hiệu đó chính là dành cho Hitler.

Tháng 1/1944, trong chiến dịch đổ bộ Normandy, khi Chibitty lên được bãi biển Utah, sĩ quan chỉ huy ra lệnh: “Thông báo cho bộ chỉ huy biết chúng ta đã đổ bộ thành công. Hiện quân đội đang chuẩn bị đánh chiếm trận địa quân địch”. Bất chấp bão cát và song biển do bom đạn gây ra, Chibitty liền lấy máy điện báo vô tuyến, nhanh chóng dùng tiếng Comanche phát mẩu tin trên. Ông đã phát tin đầu tiên về chiến dịch đổ bộ Normandy thành công bằng mật mã Comanche.

Khi đó trên bãi biển, bom đạn và pháo sáng không ngừng nổ trên đầu. Sau một hồi nhiễu tĩnh điện, Chibitty nhận được tin: “Đã nhận rồi. Giữ vững trận địa bãi biển. Làm rõ phương vị quân địch. Bộ đọi tăng viện rất nhanh sẽ đến. Hết”. Đối với mật mã Comanche, bộ phận mã thám của quân Đức phát xít vắt óc truy tìm và mãi mãi không thể giải được.

Những người anh hùng không tên tuổi

đội biên dịch mật mã vô địch
Nhóm biên dịch mật mã Navajo

Trong khi chiến đấu hoặc sau đó, bất kể là nhân viên mật mã Navajo hay nhân viên mật mã Comanche đều không được khen thưởng bởi những cống hiến to lớn của họ. Lúc đó Lầu năm góc cho rằng, những nhân viên mật mã này trong chiến tranh lạnh tiếp theo vẫn có thể được sử dụng, cần được bảo mật. Những hình thức khen thưởng sau đó đối với những nhân viên mật mã cổ này trở nên rất muộn màng, phần lớn những người trong số họ đã lặng lẽ rời nhân gian.

Nửa thể kỷ sau đó, đối với những nhân viên mật mã này Tổng thống Bush cảm khái nói: “Họ dũng cảm làm việc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình… Cống hiến đối với quốc gia của họ đáng được tất cả những người Mỹ tôn kính và cảm ơn”. Khi đó, trong 29 người Indian Navajo soạn ra bộ “mật mã vô địch” năm xưa hầu hết đã rời khỏi thế giới này. Tên tuổi của họ đã mãi mãi biến mất trong dòng lịch sử giống như họ chưa từng đến trái đất này.

Trả lời

Theme by Cót Két